Tình hình kinh tế - xã hội năm 2011
I. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu.
- Tốc độ tăng GDP : 9,7%
Trong đó, tốc độ tăng trưởng của các ngành:
+ Công nghiệp - xây dựng : 9,6%
+ Dịch vụ : 12,4%
+ Nông, lâm, thủy sản : 6,1%
- Sản lượng lương thực : 698.000 tấn
- Sản lượng hải sản khai thác :174.000 tấn
- Kim ngạch xuất khẩu : 283 triệu USD
Trong đó: Xuất khẩu hàng hóa: 215 triệu USD
- Tổng thu ngân sách nhà nước : 7.820 tỷ đồng
Trong đó: Thu nội địa : 2.800 tỷ đồng
- Chi đầu tư phát triển : 624 tỷ đồng
- Tỷ lệ giảm sinh : 0,04%
- Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 : 99,98%
- Giải quyết việc làm : 23.500 lao động
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo : 1,5%
- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn: 12,5%
II. Tình hình kinh tế - xã hội
1. Kinh tế
1.1. Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp năm 2011 ước đạt 5.681,8 tỷ đồng (giá cố định năm 1994), tăng 10,2% so với năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước giảm 8,2%; kinh tế ngoài nhà nước tăng 13,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài gấp 2,3 lần so với năm trước Một số sản phẩm tăng cao như: may mặc, hạt điều nhân, nước mắm, trang in, đường các loại, gạch nung...
1. 2. Đã thu hút trên 2,8 triệu lượt khách du lịch, tăng 12% so với năm trước; trong đó khách du lịch quốc tế 300.000 lượt khách, tăng 20%; doanh thu khoảng 3.351 tỷ đồng, tăng 32%. Chất lượng phục vụ du khách tiếp tục được nâng lên; ý thức chấp hành các quy định của nhà nước trong hoạt động kinh doanh du lịch, dịch vụ du lịch có chuyển biến tốt. Đã tập trung làm tốt công tác quảng bá hình ảnh và tiềm năng du lịch Bình Thuận với du khách trong và ngoài nước. Khu du lịch trọng điểm Phan Thiết – Mũi Né được tiếp tục đầu tư, chỉnh trang và nâng cao chất lượng dịch vụ.
1.3. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vượt 6,6% so với kế hoạch, tăng 2,2% so với năm trước, trong đó diện tích cây lương thực vượt 4,5% kế hoạch, tăng 2,1% so với năm trước; sản lượng lương thực vượt 10,9% kế hoạch, tăng 8,3% so với năm trước. Trồng mới 2.109 ha cao su, nâng tổng diện tích cao su lên 34.727 ha, tăng 6,5% so với năm trước. Diện tích thanh long trồng mới 1.996 ha, nâng tổng diện tích thanh long toàn tỉnh lên 15.400 ha, đạt 112,8% kế hoạch, tăng 14,9% so với năm trước; đến nay đã chứng nhận 4.784 ha thanh long đạt tiêu chuẩn VietGap. Các mô hình chăn nuôi tập trung tiếp tục phát triển.
1.4. Diện tích rừng trồng mới ước thực hiện đạt 100% kế hoạch. Công tác chống lấn chiếm đất lâm nghiệp, truy quét chống phá rừng tại các điểm nóng, vùng giáp ranh được tăng cường; công tác phòng, chống cháy rừng được triển khai chặt chẽ. Tỉ lệ che phủ rừng đạt 48,6% tăng 0,07% so với năm trước.
1.5. Sản lượng khai thác hải sản vượt 2,4% kế hoạch. Sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng 5,3% so với trước, đã sản xuất và tiêu thụ 10,5 tỷ post tôm giống, tăng 13,4%. Tàu thuyền công suất lớn (từ 90CV trở lên) tăng 111 chiếc so với cuối năm 2010. Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản được tăng cường, tàu thuyền công suất nhỏ tiếp tục giảm. Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ cho ngư dân theo Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg ngày 13 tháng 7 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ, góp phần thúc đẩy sản xuất và ổn định đời sống ngư dân.
1.6. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ ước tăng 18% so với năm 2010. Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, giá cả, chống buôn lậu và gian lận thương mại được duy trì thường xuyên và tăng cường, không để xảy ra sốt hàng, sốt giá. Công tác xúc tiến thương mại, tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm nội tỉnh được quan tâm. Xúc tiến thu hút đầu tư nhà máy gia nhiệt thanh long. Kim ngạch xuất khẩu 283 triệu USD; trong đó, xuất khẩu hàng hóa 215 triệu USD, vượt 16,5% kế hoạch, tăng 20,6% so năm trước. Nhóm hàng thủy sản 82 triệu USD, giảm 2,8%; hàng nông sản 49,6 triệu USD, tăng 31,6%; hàng hoá khác 83,7 triệu USD, tăng 48,4%.
1.7.Hoạt động thông tin và truyền thông tiếp tục phát triển. Số thuê bao điện thoại phát triển thêm trong năm khoảng 104.200 thuê bao, nâng tổng số máy điện thoại thuê bao các loại lên 1.612.400 thuê bao, đạt mật độ 137 thuê bao/100 dân; tỷ lệ người sử dụng Internet chiếm 30%. Dịch vụ vận tải hàng hóa, hành khách ổn định, đáp ứng nhu cầu đi lại và vận tải hàng hóa của nhân dân.
1.8. Tổng thu ngân sách nhà nước 7.820 tỷ đồng, vượt 36,7% dự toán năm. Trong đó, thu nội địa là 2.800 tỷ đồng, vượt 3,7% dự toán và tăng 8,9% so với năm trước. Chi ngân sách đáp ứng được những yêu cầu chi thường xuyên và thực hiện các nhiệm vụ quan trọng của địa phương. Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn 10.491 tỷ đồng, tăng 28% so với đầu năm. Tổng dư nợ cho vay ước đạt 12.951 tỷ đồng, tăng 16%; trong đó, dư nợ cho vay lĩnh vực sản xuất chiếm 83,8%; lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh có xu hướng giảm dần, còn khoảng 17-19%/năm.
1.9. Nguồn vốn huy động cho đầu tư phát triển tiếp tục tăng; năm 2011 huy động 13.500 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn ngân sách tập trung ước thực hiện 624 tỷ đồng, đạt 90,4% kế hoạch. Trong 11 tháng, đã cấp mới 32 dự án, với tổng vốn đầu tư 1.698,5 tỉ đồng. Đến cuối tháng 11/2011, tổng số dự án còn hiệu lực trên địa bàn tỉnh là 1.154 dự án với tổng vốn đăng ký 87.694 tỷ đồng; trong đó có 90 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng ký 1.687,9 triệu USD.
2. Văn hóa – xã hội
2.1. Chất lượng giáo dục ở các cấp học tiếp tục được giữ vững. Tỷ lệ học sinh lớp 5 hoàn thành chương trình cấp tiểu học đạt 99,84%, tăng 0,15% so với năm học trước; tỷ lệ học sinh lớp 9 được xét công nhận tốt nghiệp THCS đạt 98,43%, tăng 0,69%; tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt 88,34%, tăng 4,64%; tỷ lệ tốt nghiệp bổ túc THPT đạt 69,63%, tăng 38,58%; tỷ lệ học sinh yếu, kém về học lực cấp THCS giảm 2,53%, THPT giảm 3,48%. Tỷ lệ học sinh bỏ học toàn tỉnh là 1,81%, so với cùng kỳ năm học trước giảm 0,08%. Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia được tập trung chỉ đạo, hiện nay toàn tỉnh đã có 48 trường đạt chuẩn quốc gia, tăng 10 trường so với năm trước. Công tác phổ cập giáo dục được tập trung chỉ đạo, giữ vững Chuẩn quốc gia về PCGD TH và chống mù chữ, PCGD TH đúng độ tuổi và PCGD THCS. Công tác tổ chức dạy và học ở các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp được tập trung chỉ đạo. Công tác đào tạo liên kết, liên thông, tuyển sinh cơ bản đúng quy chế hiện hành.
2.2. Đã hoàn thành Quy hoạch phát triển ngành Y tế đến năm 2020, giữ vững chuẩn Quốc gia về y tế. Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân nhìn chung được bảo đảm, dịch bệnh được kiểm soát và khống chế kịp thời. Các chương trình y tế quốc gia được triển khai tích cực; công tác khám chữa bệnh được quan tâm, nhất là đối với người nghèo và trẻ dưới 6 tuổi ở các tuyến; Bệnh viện Đa khoa tỉnh và một số bệnh viện khu vực, tuyến huyện được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế theo hướng đồng bộ, hiện đại. Hiện có 86/127 trạm y tế xã, phường có bác sỹ công tác, đạt tỷ lệ 68%. Đã tổ chức thanh, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm 4.918/5.431 cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh và dịch vụ ăn uống trong toàn tỉnh, đạt 90,5%; tỷ lệ cơ sở vi phạm bị xử lý là 26,9%.
2.3. Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm được chú ý. Đã tổ chức đào tạo và bồi dưỡng nghề cho 12.000 người, đạt 100% kế hoạch năm; trong đó đào tạo nghề cho lao động nông thôn là 10.000 người, đạt 100%. Giải quyết việc làm cho 23.500 lao động, vượt 2,2% so với kế hoạch; đưa 40 lao động đi làm việc ở nước ngoài.
2.4. Các chính sách về an sinh xã hội được triển khai khá tốt và đạt nhiều kết quả. Trong năm giảm 4.200 hộ nghèo, đạt 100% kế hoạch. Hoàn thành việc cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo. Đã ra quyết định hỗ trợ cải thiện nhà ở cho 470/976 gia đình người có công, với tổng số tiền là 9.600 triệu đồng; 1.605/1.673 hộ nghèo có quyết định hỗ trợ xây dựng nhà ở, đã xây dựng xong 892 căn nhà cho hộ nghèo, đạt 53% so với kế hoạch năm 2011. Các chính sách, chế độ đối với người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Các chính sách, chế độ đối với người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Chi trợ cấp khó khăn cho 8.929 đối tượng người có công với kinh phí 1.824 triệu đồng và 24.284 hộ nghèo với kinh phí 6.071 triệu đồng; chi hỗ trợ trả tiền điện cho 24.266 hộ nghèo với tổng số tiền 6 tỷ đồng. Tổ chức cứu đói cho 1.052 hộ/3.839 khẩu do tjhiên tai với 100 tấn gạo; trợ cấp hàng tháng cho 25.095 người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với kinh phí 76.353 triệu đồng.
2.5. Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, thông tin tuyên truyền tiếp tục được đẩy mạnh, nhất là công tác tuyên truyền, các hoạt động phục vụ cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, các ngày lễ lớn. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai theo hướng thiết thực, gắn với nâng cao chất lượng và ngày càng đi vào thực chất. Tòan tỉnh hiện có 248.861/260.001 hộ gia đình đăng ký xây dựng “Gia đình văn hóa” (đạt 95,7%), 689/701 thôn, khu phố phát động xây dựng thôn, khu phố văn hóa (đạt 98,2%), 1.617/1.675 cơ quan, đơn vị đăng ký xây dựng nếp sống văn minh (đạt 96,5%). Đã phối hợp đăng cai tổ chức thành công các giải thể thao trong nước và quốc tế; thể thao thành tích cao đạt kết quả khá.
Giới Thiệu