Tình hình kinh tế - xã hội năm 2008

I. VỀ KINH TẾ
1. Giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 4.224,4 tỷ đồng, tăng 25,7% so năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước đạt 1.417,7 tỷ đồng tăng 44,4% (riêng giá trị sản xuất thủy điện 1.289 tỷ đồng, tăng 49%); khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 18%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,4%. Công nghiệp - TTCN địa phương tăng ổn định ở mức 17,6%. Một số sản phẩm tăng khá so với cùng kỳ như: đá xây dựng, nước khoáng, sản phẩm may mặc, điện phát ra.
Tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các vướng mắc về đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp; các KCN Phan Thiết (giai đoạn 2), KCN Hàm Kiệm I và II đã hoàn tất công tác đền bù giải tỏa, đang triển khai xây dựng hạ tầng. Khu công nghiệp Tân Đức, Sơn Mỹ I đã được Thủ tướng Chính phủ đưa vào danh mục quy hoạch phát triển các KCN Việt Nam đến năm 2015, đang triển khai công tác chuẩn bị đầu tư. Lập xong quy hoạch chi tiết KCN Tuy Phong. Việc quy hoạch Cảng nước sâu Kê gà phục vụ các KCN và cảng chuyên dùng cho Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân đang được các chủ đầu tư khẩn trương thực hiện. Có 4 cụm CN-TTCN tiến hành đầu tư kết cấu hạ tầng. Các dự án điện gió tại Tuy Phong, thủy điện Bắc Bình, La Ngâu, Sông Lũy đã được triển khai xây dựng. Một số doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu, đồ gỗ, nước khoáng, may mặc đã chú trọng công tác nghiên cứu và phát triển sản phẩm, đầu tư chiều sâu đổi mới công nghệ - thiết bị, quản lý chất lượng theo hệ thống quốc tế ISO, HACCP nhằm đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường.
2. Hoạt động Du lịch tiếp tục phát triển khá, công tác quản lý nhà nước về du lịch ở các cấp được tăng cường. Số dự án đi vào hoạt động tăng khá, nhất là các dự án lớn, chất lượng cao, có loại hình dịch vụ mới. Công tác củng cố, nâng chất lượng khu du lịch trọng điểm Hàm Tiến - Mũi Né được tập trung chỉ đạo và thực hiện. Dự ước cả năm có 2 triệu lượt khách, đạt kế hoạch, tăng 11% so cùng kỳ; doanh thu khoảng 1.424 tỷ đồng, tăng 32,4% so với năm 2007. Chất lượng các dịch vụ, chất lượng phục vụ du khách được các đơn vị kinh doanh du lịch chú trọng hơn trước. Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm, an ninh trật tự ở các khu, điểm du lịch bảo đảm tốt; giá cả dịch vụ, hàng hoá trên địa bàn tỉnh trong những ngày cuối tuần, lễ, tết tương đối ổn định.
Đã phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh định hướng đến năm 2020; Đề án phát triển du lịch sinh thái Bình Thuận; Quy hoạch định hướng phát triển du lịch suối nước nóng Bưng Thị; Đề án bảo tồn và phát triển cảnh quan du lịch Bình Thuận. Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch tiếp tục được tăng cường; đã tham gia hội chợ du lịch quốc tế tại Đức, Nga; tổ chức các Lễ hội Dinh Thầy Thím, Lễ hội Nghinh Ông, Tết Trung thu và ngày hội Văn hóa Du lịch năm 2008 kết hợp với quảng bá giới thiệu du lịch của tỉnh.
3. Đã tập trung chỉ đạo chặt chẽ mùa vụ sản xuất nông nghiệp, công tác điều tiết bảo đảm nguồn nước tưới, phòng chống dịch bệnh và chuyển đổi cây trồng thích hợp cùng với thời tiết thuận lợi và tăng thêm năng lực tưới nên sản xuất nông nghiệp phát triển khá. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 103,7% kế hoạch, tăng 1,7% so với năm trước. Trong đó, diện tích cây lương thực tăng 2,8%; sản lượng lương thực đạt 116,3% kế hoạch, tăng 5,6% so với năm 2007. Trồng mới cây cao su gấp 2,34 lần kế hoạch (4.685 ha/2.000 ha), cây thanh long vượt kế hoạch 49% (1.046 ha /700 ha), diện tích điều giảm 2.500 ha do người dân chuyển từ cây điều sang trồng cây cao su. Tập trung thực hiện việc tuyên truyền, kiểm tra, hướng dẫn quy trình sản xuất thanh long an toàn, đạt chuẩn phục vụ xuất khẩu cho 93,4% số hộ sản xuất và 83% cơ sở thu mua thanh long, bước đầu nâng cao nhận thức của nhân dân đối với sản xuất, thu mua, bảo quản thanh long theo hướng sạch, bảo đảm an toàn thực phẩm.
Chăn nuôi ổn định, đàn bò tăng 1,4%; đàn heo tăng 0,4%; đàn gia cầm tăng 18,1%. Thực hiện tốt công tác tập huấn, tuyên truyền, kiểm soát vận chuyển, giết mỗ và triển khai công tác tiêm phòng, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các bệnh không để lây lan thành dịch. Đã có 01 cơ sở giết mổ tập trung với công suất 100 con heo và 1800 gà, vịt/ ngày.
Diện tích rừng trồng mới ước đạt 4.400 ha/KH 4.800 ha, đạt 91,7%. Công tác chống phá rừng và phòng chống cháy rừng được tập trung chỉ đạo nên số vụ vi phạm lâm luật giảm; đã phát hiện và xử lý 1.800 vụ vi phạm, giảm 277 vụ so với năm 2007. 
Diện tích sản xuất muối trên địa bàn tỉnh đến nay là 849 ha, sản lượng cả năm ước đạt 78.000 tấn, tăng 2,8% so với năm trước.
4. Trong năm, đầu tư đóng mới 95 thuyền/15.279 CV; trong đó, tàu có công suất trên 90 CV là 22 chiếc/7.781 CV, nâng tổng số tàu cá có công suất từ 90 CV trở lên là 1.450 chiếc. Đội tàu dịch vụ hậu cần được duy trì. Sản lượng hải sản khai thác cả năm đạt 103,1% kế hoạch, giá trị và chất lượng chủng loại hải sản khai thác được nâng lên. Công tác quản lý chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm được quan tâm đẩy mạnh bằng nhiều biện pháp đã có tác động tích cực đến các tàu thuyền và cơ sở thu mua, chế biến thủy sản. Sản lượng sản phẩm hải sản chế biến khoảng 26.500 tấn.
Công tác đảm bảo an toàn cho người và tàu thuyền hoạt động trên biển được chú trọng. Thực hiện chính sách hỗ trợ đối với ngư dân theo Quyết định 289/QĐ-TTg và Quyết định 965/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đến cuối tháng 10, đã chi hỗ trợ 52, 36 tỷ đồng cho 5.486 chủ thuyền.
Triển khai thực hiện tốt các chương trình tập huấn và chuyển giao khoa học kỹ thuật cho dân trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản. Ước cả năm sản lượng tôm nuôi 4.500 tấn, tăng 15,4%; sản lượng thủy sản nước ngọt tăng 12,5% so với năm trước. Sản lượng tôm giống 5,6 tỷ post, tương đương năm trước. Nuôi các loại hải sản giá trị cao trên biển tiếp tục được duy trì phát triển tại huyện Phú Quý, Tuy Phong. 
5. Tình hình dân sinh, kinh tế xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục chuyển biến, đời sống của  đồng bào tiếp tục ổn định và có cải thiện. Việc quản lý sử dụng đất, quản lý bảo vệ rừng nhận khoán, quản lý phát triển đàn bò vay được quan tâm chỉ đạo thực hiện theo chủ trương cam kết “3 không”; các tồn tại về bán và cho thuê đất, bán bò vay, phá rừng làm rẫy được quan tâm giải quyết, 10 tháng thu nợ vay mua bò gần 9 tỷ đồng, lũy kế đến nay đã thu đạt 52,4% tổng nợ vay (11.545 triệu đồng /22.035 triệu đồng). Đồng bào dân tộc thiểu số tập trung đưa đất đã cấp vào sản xuất khá hơn, một số hộ trước đây đã bỏ hoang giao cho thôn, xã nay xin lại để tổ chức sản xuất. Thực hiện tốt chính sách trợ giá, trợ cước, chính sách đầu tư ứng trước, kịp thời cung ứng các loại giống, vật tư hàng hóa thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống và thu mua nông sản của đồng bào; đã đầu tư ứng trước sản xuất bắp lai, lúa nước cho 1979 hộ/3249,5 ha; thu mua 6554 tấn bắp, 425 tấn mủ cao su với giá trị trên 22,1 tỷ đồng. Đẩy mạnh việc tổ chức mở các lớp khuyến nông, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về thâm canh cây bắp lai, sản xuất lúa nước, chăm sóc cao su cho đồng bào.      
6. Hoạt động thương mại nội địa cơ bản ổn định. Tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ khoảng 12.602 tỷ đồng, đạt kế hoạch, tăng 29,6% so với năm trước. Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đăng ký kinh doanh, chống buôn lậu và gian lận thương mại được duy trì thường xuyên và tăng cường, góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển lành mạnh.  
Công tác xúc tiến thương mại ra nước ngoài được thực hiện tích cực, xuất khẩu có chuyển biến khá. Kim ngạch xuất khẩu đạt 106,3% kế hoạch, tăng 17,3% so năm trước. Trong đó, xuất khẩu sản phẩm hàng hóa đạt 102,2%KH, tăng 13,4% so với năm trước. Nhóm hàng hải sản 78,1 triệu USD (đạt 88,8% KH; tăng 2,5%), hàng nông sản 26,3 triệu USD (đạt 93,9% KH, tăng 1,4%), hàng hoá khác 48,9 triệu USD (đạt 144% KH, tăng 48% so năm trước). Một số mặt hàng chủ yếu như: hải sản 18.000 tấn, quả thanh long 33.716 tấn, hàng dệt may 36,7 triệu USD; xuất khẩu nhân hạt điều, cao su sau khi tìm được thị trường đã ổn định, đạt kết quả khá hơn cùng kỳ năm trước; xuất khẩu hàng dệt may đã vượt được kế hoạch năm, gấp 1,8 lần năm trước. Đang tích cực triển khai các quy trình và xuất khẩu thanh long sang thị trường Mỹ.
7. Hoạt động bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển. Hạ tầng kỹ thuật viễn thông được tập trung đầu tư, vùng phủ sóng di động, mạng điện thoại cố định, dịch vụ truy cập Internet ADSL được mở rộng, chất lượng được cải thiện tốt hơn. Số máy điện thoại đạt mật độ 59,5 máy/100 dân, bằng 107% so với kế hoạch. Mật độ thuê bao internet quy đổi đạt 6,62 thuê bao/100 dân, tỉ lệ người sử dụng Internet đạt gần 24%. Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước được triển khai và tạo được một hạ tầng công nghệ thông tin tương đối tốt tại các đơn vị.
Hoạt động vận tải đáp ứng kịp thời nhu cầu vận chuyển hàng hoá và hành khách trên các lĩnh vực đường bộ, đường thuỷ, đường sắt. Có thêm 2 tuyến xe buýt mới, 3 tuyến kéo dài cung đường. Hoạt động vận tải bằng xe chất lượng cao, xe buýt công cộng, taxi tiếp tục phát triển, phục vụ tốt nhu cầu đi lại của nhân dân và lượng khách ngày càng đông.
8. Công tác quy hoạch, rà soát điều chỉnh, bổ sung quy hoạch xây dựng được đẩy mạnh. Đến nay tất cả các đô thị trên địa bàn tỉnh đều đã lập, phê duyệt quy hoạch chung và điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng. Riêng thành phố Phan Thiết và thị xã La Gi đang lập và điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng cho một số xã, phường. Hoàn thành điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Phan Thiết đến năm 2025, quy hoạch chi tiết khu đô thị mới Long Sơn - Suối Nước. Đang đề nghị Bộ Xây dựng thẩm định để trình Chính phủ công nhận đô thị Phan Thiết đạt tiêu chí đô thị loại II, xây dựng quy hoạch chi tiết xây dựng khu đại học Bình Thuận, Trung tâm hành chính tỉnh; khu đô thị mới Tân Thành. Đã phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung khu công nghiệp và khu dân cư dịch vụ Tân Đức - Hàm Tân; phê duyệt quy hoạch 5 làng nghề; 56 khu, điểm dân cư nông thôn tập trung; 5 cụm CN-TTCN ở các huyện; 4 trung tâm cụm xã.
Công tác thẩm định và cấp phép xây dựng đáp ứng được yêu cầu. Công tác thanh tra, kiểm tra xây dựng theo giấy phép, thực tế tại các công trường tiếp tục được chú ý, góp phần hạn chế những sai phạm trong lĩnh vực xây dựng.  
9. Việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cấp giai đoạn 2006-2010 đã cơ bản hoàn thành. Đo vẽ bản đồ địa chính đạt 23,68% KH, đo đạc BĐĐC được 9.100,2 ha (đạt 32% KH) và 9.146 ha các dự án ngoài ngân sách. Cấp Giấy CNQSDĐ được 20.500 ha, đạt 80,2% KH; trong đó cấp cho hộ gia đình, cá nhân được 17.000 ha.  Thường xuyên kiểm tra và xử lý các trường hợp vi phạm trong hoạt động khai thác khoáng sản nên tình hình khai thác trái phép có chiều hướng giảm dần. Hoàn thành Dự án Quy hoạch khai thác và sử dụng tài nguyên cát thuỷ tinh, cát công nghiệp; điều chỉnh quy hoạch Titan; điều chỉnh, bổ sung quy hoạch khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường và than bùn trên địa bàn tỉnh.
Công tác tuyên truyền tập huấn Luật Bảo vệ môi trường được thực hiện thường xuyên và sâu rộng hơn; nâng cao chất lượng thẩm định môi trường. Thường xuyên kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các đơn vị gây ô nhiễm, các cơ sở thường xuyên có đơn thư khiếu kiện về môi trường.
10. Thu ngân sách nhà nước đạt khá. Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2008 ước thực hiện 4.350 tỷ đồng, đạt 113,4% dự toán năm và tăng 7,09% so với năm 2007. Trong đó, thu nội địa là 2.020 tỷ đồng, đạt 109,49% dự toán và tăng 17,4%. Chi ngân sách đáp ứng được những yêu cầu chi thường xuyên và thực hiện các nhiệm vụ quan trọng của địa phương
Tổng nguồn vốn hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn là 8.013 tỷ đồng; trong đó nguồn vốn huy động đạt 4.729 tỷ đồng, tăng 38,6% so với đầu năm. Tổng dư nợ ước đạt 6.808 tỷ đồng, tăng 20,9%. Công tác thanh toán và các dịch vụ tiện ích của ngân hàng tiếp tục được quan tâm đầu tư; toàn tỉnh hiện có 48 máy rút tiền tự động bằng thẻ ATM với số lượng thẻ phát hành là 65.937 thẻ.
11. Do việc triển khai thực hiện kịp thời các giải pháp khắc phục và kiềm chế lạm phát của Chính phủ nên bước đầu đã phát huy hiệu quả trong việc sử dụng vốn đầu tư, tiến độ thực hiện một số công trình trọng điểm, thủy lợi nhỏ, kênh tiếp nước, công trình giao thông, công trình kiên cố hóa trường học đạt khá, đặc biệt vào những tháng cuối năm. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện khoảng 6.000 tỷ đồng, tăng 23,6% so với năm 2007, trong đó nguồn vốn ngân sách tập trung ước thực hiện 590 tỷ đồng, đạt 95% kế hoạch. Công tác rà soát tháo gỡ khó khăn vướng mắc, xử lý đối với các dự án ngoài ngân sách để thúc đẩy tiến độ triển khai của các dự án được quan tâm. Trong 10 tháng có thêm 86 dự án đã được cấp chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 13.857 tỷ đồng, nâng tổng số dự án còn hiệu lực trên địa bàn tỉnh lên 885 dự án với tổng vốn đăng ký 37.264 tỷ đồng. 
II. VĂN HÓA - XÃ HỘI:
1. Hoạt động giáo dục và đào tạo tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Chất lượng giáo dục cơ bản được giữ vững. Tỷ lệ xét công nhận hoàn thành chương trình cấp tiểu học đạt 97,87% (tăng 2,34% so với năm học trước), tốt nghiệp THCS đạt 94,01% (tăng 5,07%), tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt 84,4% (tăng 1%). Tình hình học sinh bỏ học đã giảm hẳn so với năm học trước. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cuộc vận động "nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục" gắn với việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tỷ lệ huy động học sinh ra lớp ở các độ tuổi đều tăng so với năm học trước, trong đó tỷ lệ huy động học sinh 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,86%. Xã hội hóa giáo dục tiếp tục thực hiện, toàn tỉnh có 65,9% cháu nhà trẻ, 17,53% cháu mẫu giáo và 32% học sinh THPT ngoài công lập so với tổng số học sinh từng cấp học. Giữ vững chuẩn quốc gia về Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và Phổ cấp THCS.
Mạng lưới trường lớp tiếp tục được mở rộng, đã xây mới 527 phòng học, trong đó: mầm non 26 phòng, tiểu học 204 phòng, THCS 251 phòng, THPT 46 phòng, đáp ứng cơ bản nhu cầu học tập của nhân dân.
Bộ máy các Trường Cao đẳng Cộng đồng và Trường Cao đẳng Y tế  Bình Thuận tiếp tục được củng cố và đi vào hoạt động ổn định. Hệ thống các trường Cao đẳng, Trung cấp nghề, Trung tâm giáo dục thường xuyên thực hiện tốt công tác đào tạo các hệ chính quy theo chỉ tiêu hằng năm đồng thời liên kết đào tạo mở thêm nhiều ngành nghề, nhiều loại hình để đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực với hơn 6.000 sinh viên học đại học từ xa, đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp không chính quy; đào tạo nghề ngắn hạn cho hơn 8.000 người, trong đó đào tạo nghề cho lao động nông thôn 4.700 người.
Thực hiện Đề án đào tạo sau Đại học ở nước ngoài, đến nay tuyển chọn được 36 ứng viên (07 nghiên cứu sinh, 29 cao học); đã cử 05 ứng viên đi học ở các nước Pháp, Bỉ, Úc, Singapore.
Các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh và huyện tiếp tục được quan tâm đầu tư, thực hiện tốt công tác đào tạo tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số; có 1.644 học sinh dân tộc thiểu số theo học.
2. Công tác quản lý triển khai các đề tài, dự án nghiên cứu - ứng dụng có nhiều cố gắng. Đã tích cực hỗ trợ doanh nghiệp phát triển và bảo vệ tài sản trí tuệ, nhất là các doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm lợi thế của tỉnh như nước mắm, thanh long xuất khẩu, chế biến thủy sản; hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO, HACCP, tham gia giải thưởng chất lượng, giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng, tăng sức cạnh tranh sản phẩm. Công tác phát triển tiềm lực khoa học công nghệ được quan tâm chỉ đạo. Công tác đo lường, thử nghiệm tiếp tục được đẩy mạnh phục vụ tốt công tác quản lý nhà nước. Chú trọng công tác chuyển giao, đào tạo tập huấn khoa học công nghệ ở địa phương; tiếp tục thực hiện đề tài, dự án phục vụ sản xuất và đời sống có giá trị thực tiễn, đã giúp nông dân biết ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm. 
3. Công tác chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch, triển khai các chương trình mục tiêu về y tế được thực hiện tích cực, trong năm không có dịch bệnh nguy hiểm như dịch cúm AH5N1, sốt xuất huyết xãy ra. Công tác khám chữa bệnh đáp ứng được nhu cầu, đặc biệt là khám chữa bệnh người nghèo, khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi triển khai thống nhất. Công tác xã hội hoá hoạt động y tế được đẩy mạnh, có thêm 3 dự án bệnh viện tư nhân đang triển khai thủ tục đầu tư.
            Mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố, trong năm đã hoàn thành đầu tư đưa vào sử dụng 9 trạm Y tế với kinh phí 9,5 tỉ đồng. Dự kiến cuối năm toàn tỉnh có 100 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế; có 64 trạm y tế có bác sĩ, chiếm 56% (năm 2007 là 72 trạm).
Công tác đào tạo đội ngũ bác sỹ, cử nhân điều dưỡng, chuyên khoa sau đại học, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ được tăng cường. Các hoạt động về truyền thông giáo dục sức khỏe, thanh kiểm tra công tác y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm được thực hiện thường xuyên.
Thực hiện các chỉ tiêu về KHHGĐ đạt kế hoạch; giảm mức sinh 0,08%, các hoạt động về công tác trẻ em đạt được kết quả khá cao như huy động nguồn lực cho Quỹ Bảo trợ trẻ em, mổ tim bẩm sinh cho trẻ em dưới 16 tuổi, phẫu thuật mắt, phẫu thuật các loại khuyết tật vận động.
4. Giải quyết việc làm cho lao động ước đạt 104,3% kế hoạch, trong đó xuất khẩu lao động 300 người, đạt 60% kế hoạch. Công tác giảm nghèo được tập trung chỉ đạo nên việc thực hiện các chính sách, dự án hỗ trợ giảm nghèo sớm được triển khai và đạt hiệu quả. Ước cả năm giải ngân 98 tỷ đồng cho 14.000 lượt hộ nghèo vay vốn, nâng tổng số dư nợ lên 279 tỷ đồng. Việc huy động nguồn lực từ cộng đồng thông qua cuộc vận động “Mái ấm cho người nghèo”, Quỹ “Vì người nghèo” góp phần giải quyết cơ bản về nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trong năm 2008. Hoàn thành việc xây dựng 4.108 căn nhà để hổ trợ nhà ở cho hộ nghèo; giảm 3.100 hộ nghèo. Các chính sách, chế độ đối với người có công được thực hiện đầy đủ và đồng bộ đã góp phần ổn định đời sống người có công với cách mạng trong tỉnh.
5. Hoạt động văn hoá, thông tin tập trung vào công tác thông tin tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị như: tuyên truyền 7 nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh; cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc. Các hoạt động văn hoá, văn nghệ với nội dung phong phú được tổ chức rộng khắp. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được củng cố thông qua việc tổ chức rà soát, đánh giá lại các tiêu chí theo đúng thực chất. Ước đến cuối năm toàn tỉnh có 160 thôn, khu phố đạt chuẩn văn hóa, đạt 23,56% kế hoạch; số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa ước 186.000 hộ, đạt 76,9%; có 1.497 cơ quan đơn vị đạt danh hiệu nếp sống văn minh, đạt 92,6%. Công tác phát thanh, truyền hình có sự chuyển biến tiến bộ về loại hình, nội dung chương trình, thời lượng phát sóng đảm bảo nội dung tuyên truyền chính trị và nhu cầu hưởng thụ của nhân dân.
Hoạt động thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi và rộng khắp với nhiều hình thức phong phú, đa dạng như Lễ, hội đua thuyền, lắc thúng, chạy vượt đồi cát, leo núi; tổ chức các môn thi bóng đá, bóng chuyền, cầu lông và cử vận động viên tham gia thi đấu ở một số bộ môn trong hoạt động thể thao thành tích cao như: canoeing, Taekwondo, Judo. Tổ chức tốt việc đón đoàn rước đuốc “Đuốc sáng Việt Nam - Hành trình theo chân Bác” lần thứ II/2008 đến Bình Thuận .
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư.

Bản quyền thuộc về Sở Kế hoạch & Đầu tư Bình Thuận © 2008
Giấy phép số 12/GP-TTĐT do Cục QL Phát thanh, Truyền hình và TTĐT cấp ngày 29/7/2008.
Thư điện tử: kehoach@binhthuan.gov.vn