Bốn giải pháp đẩy mạnh thu hút FDI

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được các chuyên gia kinh tế đánh giá là thành quả lớn nhất của Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO. Thực tế, ngay trong năm đầu tiên - năm 2007, thu hút vốn FDI đã tăng gấp đôi so với năm 2006. Sang năm 2008, các số liệu thống kê tình hình thu hút vốn FDI của Việt Nam còn khích lệ hơn rất nhiều, gấp gần bằng ba lần năm 2007. Vấn đề đặt ra cho năm 2009, năm thứ ba sau khi gia nhập WTO, trong bối cảnh suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chính toàn cầu, liệu số vốn đăng ký, cam kết khổng lồ của năm 2008 sẽ được thực hiện đến đâu?

Chưa tận dụng được hết cơ hội

Trong nửa cuối năm 2006, nhìn thấy trước triển vọng Việt Nam sẽ gia nhập WTO trong đầu năm 2007, vốn FDI đã có xu hướng tăng mạnh vào nước ta với những tập đoàn lớn, những công ty đa quốc gia đăng ký đầu tư. Xu hướng này tiếp tục tăng nhanh trong năm 2007 và cả năm 2008. Năm 2007, vốn FDI tăng đến 93,2% với mức đăng ký đạt 21,3 tỷ USD. Năm 2008, mặc dù lạm phát tăng cao nhưng vốn FDI vẫn tăng gấp gần ba lần với số vốn đăng ký đạt 60,3 tỷ USD, nếu tính cả số vốn tăng thêm trong các dự án đã thực hiện thì vốn FDI năm 2008 là 64 tỷ USD, mức kỷ lục từ trước đến nay. Vốn FDI thực hiện  năm 2007 là 8 tỷ USD, chiếm 24,8% tổng đầu tư toàn xã hội; năm 2008 mặc dầu lạm phát cao vào quý III và khủng hoảng tài chính cũng đã bắt đầu xuất hiện, tác động tiêu cực đến hệ thống ngân hàng các nước Âu Mỹ nhưng vốn thực hiện vẫn đạt 11,3 tỷ USD, chiếm 29,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Tuy nhiên, theo nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển, mặc dù cơ hội là một thực tế nhưng khả năng tận dụng cơ hội còn rất hạn chế. Tỷ lệ vốn thực hiện đạt thấp (năm cao nhất - năm 2007 cũng chỉ đạt 38%, năm 2008 chỉ đạt 17% so với vốn đăng ký) do khả năng tiếp nhận của chúng ta còn kém. Bên cạnh đó, cơ cấu FDI cũng không hợp lý. FDI vào công nghiệ chế tạo và chế biến giảm liên tục từ năm 2005 đến năm 2008 (70,4% năm 2005 xuống 68,9% năm 2006, 51% năm 2007 và còn 36% năm 2008) và chủ yếu là đầu tư vào công nghiệp lắp ráp nhằm tận dụng lao động rẻ, giá trị gia tăng thấp. Trong khi đó, đầu tư vào khai thác tài nguyên và vào bất động sản (cũng là một dạng khai thác tài nguyên đ t đai) tăng lên. Đầu tư vào khai thác mỏ từ 0,8% năm 2005 lên 1,2% năm 2006 và lên tới 18,5% năm 2008, đầu tư  vào khách sạn, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng từ 0,9% năm 2005 tăng đến 15,1% năm 2008. Đó là chưa kể đến hiệu ứng sân golf làm m t một diện tích không ít đất đai (trong đó có đất nông nghiệp) và có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Theo ông Tuyển, có hai nguyên nhân quan trọng hạn chế đầu tư vào công nghiệp chế biến và công nghệ cao là do chất  lượng nguồn nhân lực thấp và công nghiệp hỗ trợ không phát triển. Cơ cấu đầu tư như vậy không đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Ông Đặng Thành Tâm, Chủ tịch Tập đoàn đầu tư Sài Gòn (Saigon Invest), thành viên Nhóm tư vấn cao cấp Chương trình hậu WTO thì cho rằng, mặc dù Việt Nam đã thu hút được những nguồn vốn khổng lồ từ các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng khách quan mà nói, nhìn lại hai năm gia nhập WTO, vẫn còn những tồn tại cần phải giải quyết trong môi trường đầu tư. Trước hết là về cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng về giao thông còn yếu kém. Sự phát triển của cơ sở hạ tầng giao thông chưa theo kịp sự phát triển của kinh tế và dòng đầu tư của nước ngoài. Về môi trường pháp lý, hệ thống toà án và thực thi luật pháp còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân do các thủ tục còn rườm rà và chi phí cao, thiếu tính minh bạch. Đặc biệt là các công ty luật, đa số hoạt động kém hiệu quả và chi phí lớn đã làm giảm lòng tin đối với nhà đầu tư.

Một lợi thế của Việt Nam là nguồn nhân lực, nhưng nguồn nhân lực có trình độ quản lý và tay nghề cao còn rất thiếu. Theo thống kê chỉ có gần 30% lực lượng lao động là đã qua đào tạo, chất  lượng nguồn nhân lực cũng chưa cao, chưa đồng đều và sử dụng chưa hiệu quả. Ngoài ra, dịch vụ hành chính, hệ thống thuế, hải quan... cũng còn nhiều bất cập và chưa đồng bộ.

Vậy đâu là giải pháp để giải quyết những vấn đề tồn tại này và đến khi nào thì những vấn đề này được giải quyết một cách có hiệu quả, nhất là trong bối cảnh dòng đầu tư FDI đang suy giảm kéo theo sự suy giảm của nền kinh tế nước nhà?

Bốn giải pháp cơ bản

Với tư cách là thành viên Nhóm tư vấn cao cấp chương trình hậu WTO và cũng là người đứng đầu doanh nghiệp, ông Tâm đề xuất bốn giải pháp.

Thứ nhất, cơ sở hạ tầng cần được nâng cấp nhanh chóng, đặc biệt là các cảng biển và nhà máy điện. Mạnh dạn hơn nữa trong việc cho phép và khuyến khích doanh nghiệp tư nhân tham gia phát triển hạ tầng, nhất là những công trình hạ tầng đang xây dựng dở dang và đã kéo dài nên được hoàn thành tránh sự lãngấphí không đáng có.

Thứ hai, rất nhiều ý kiến từ phía các doanh nghiệp và các đối tác nước ngoài có liên quan đều lo ngại về những luật lệ và quy định mới, do đó cần xoá bỏ những giấy phép không cần thiết, đẩy mạnh cải cách hành chính, bãi bỏ các thủ tục không cần thiết.

Thứ ba, cần công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý. Trong đó, cần rà soát lại các văn bản phát quy liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế, sửa đổi các văn bản cho phù hợp với quy định của WTO.

Thứ tư, từng bước đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo để phát triển nguồn nhân lực. Phải xác định cho đúng những đối tượng cần được đào tạo và đào tạo lại, tránh tình trạng đào tạo tràn lan mà không biết sử dụng vào việc gì. Đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ lao động đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, có chất  lượng và tay nghề cao phục vụ cho nhu cầu của cả nước và xuất khẩu.

Nguồn: Website Bộ Tài chính

Bản quyền thuộc về Sở Kế hoạch & Đầu tư Bình Thuận © 2008
Giấy phép số 12/GP-TTĐT do Cục QL Phát thanh, Truyền hình và TTĐT cấp ngày 29/7/2008.
Thư điện tử: kehoach@binhthuan.gov.vn